Thời gian qua, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) đã được Huyện ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân huyện (UBND) Vũ Quang quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều thành quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Ngày 15/7/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết 76/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030. Theo đó, xác định Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 tập trung vào 6 nội dung, đó là: Cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; Cải cách tài chính công và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Trọng tâm Cải cách thể chế, trong đó tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá hiện nay. Điều này đã được thể hiện trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị).

Vũ Quang. tập huấn hướng dẫn sử dụng Dịch vụ công trực tuyến đáp ứng Nghị Định 45/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Trên cơ sở đó, công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL trên địa bàn có nhiều tiến bộ, chất lượng công tác xây dựng văn bản được nâng lên nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế như: chất lượng, tính ổn định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa chặt chẽ; chưa đồng đều giữa các cấp ban hành; đặc biệt vẫn còn tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, triển khai thi hành văn bản pháp luật cấp trên; quy trình xây dựng văn bản còn lúng túng; chất lượng một số dự thảo cũng như chất lượng tham gia ý kiến vào dự thảo văn bản chưa cao; hoạt động phối hợp trong xây dựng văn bản còn chưa chặt chẽ, chưa chủ động; việc rà soát văn bản QPPL chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời…

Các quy đinh hồ sơ, danh mục thủ tục hành chính được cập nhật thường xuyên tai Trung tâm hành chính công huyện, thuận tiện cho người dân khi đến làm các thủ tục.....

Vì vậy, để nâng cao chất lượng xây dựng, thẩm định văn bản QPPL cần xác định thế nào là văn bản QPPL thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL.

1. Văn bản QPPLđược quy định như thế nào trong Luật năm 2015

Nhận diện chính xác văn bản QPPL là yếu tố quan trọng đảm bảo việc xây dựng và ban hành văn bản đúng quy định. Trên thực tế, khái niệm “văn bản QPPL” còn nặng về tính học thuật, chung chung, chưa cụ thể nên đã gây khó khăn, lúng túng trong việc xác định văn bản nào là văn bản QPPL.

Để tránh nhầm lẫn trong công tác ban hành văn bản QPPL, Luật năm 2015 đã làm rõ thêm một bước khái niệm “văn bản QPPL” bằng việc làm rõ hạt nhân của văn bản QPPL chính là “QPPL”, từ đó Luật bổ sung khái niệm “QPPL”. Theo đó, “QPPL” là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền (đã được quy định trong Luật năm 2015) ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện (khoản 1 Điều 3). “Văn bản QPPL” là văn bản có chứa QPPL, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định theo Luật năm 2015 (Điều 2).

Tập huấn Công tác Văn thư- Lưu trữ cho cán bộ, công chức, viên chức năm 2022.

2. Xác định thẩm quyền ban hành văn bản QPPL

Theo quy định tại Điều 30 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL năm 2020 quy định: “Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành Nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành Quyết định để quy định những vấn đề được Luật, Nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành Nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Quyết định để quy định những vấn đề được Luật, Nghị quyết của Quốc hội giao.

Điều 3 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (được bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP)  xác định:

- Văn bản QPPL phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật.

- Ở địa phương Nghị quyết do HĐND và quyết định do UBND ban hành không phải là văn bản QPPL trong các trường hợp sau:

+ Nghị quyết miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND và các chức vụ khác;

+ Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu HĐND và bầu các chức vụ khác;

+ Nghị quyết giải tán HĐND;

+ Nghị quyết phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương;

+ Nghị quyết thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan chuyên môn thuộc UBND; quyết định thành lập các ban, ban chỉ đạo, hội đồng, Ủy ban để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định;

+ Nghị quyết tổng biên chế ở địa phương;

+ Nghị quyết dự toán, quyết toán ngân sách địa phương;

+ Nghị quyết về chương trình, đề án, dự án, kế hoạch;

+ Quyết định phê duyệt kế hoạch;

+ Quyết định giao chỉ tiêu cho từng cơ quan, đơn vị;

+ Quyết định về chỉ tiêu biên chế cơ quan, đơn vị; quyết định về khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính cho từng cơ quan chuyên môn thuộc UBND;

+ Các nghị quyết, quyết định khác không có nội dung quy định tại các Điều 27, 28, 29 và 30 của Luật năm 2015 được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020.

3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL được quy định như thế nào

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL được quy định cụ thể tại Điều 7 Luật năm 2015:

1. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình, soạn thảo văn bản QPPL:

- Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự thảo văn bản QPPL chịu trách nhiệm về tiến độ trình và chất lượng dự thảo văn bản QPPL do mình trình;

- Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản QPPL chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành văn bản về tiến độ soạn thảo, chất lượng dự thảo văn bản được phân công soạn thảo.

2. Trách nhiệm của cơ quan thẩm định, thẩm tra; cơ quan tổ chức tham gia góp ý kiến:

- Cơ quan thẩm định chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL về kết quả thẩm định đề nghị xây dựng văn bản QPPL, dự thảo văn bản QPPL.

- Cơ quan thẩm tra chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL về kết quả thẩm tra dự thảo văn bản QPPL.

- Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản QPPL, dự thảo văn bản QPPL chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến.

3. Trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản QPPL:

- Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL chịu trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình ban hành; chịu trách nhiệm về việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật

Ngoài ra, Luật năm 2015 quy định trong trường hợp dự thảo văn bản QPPL không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và cơ quan ban hành văn bản QPPL trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ và tùy theo mức độ mà xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định khác của pháp luật có liên quan.

4. Nguyên tắc xây dựng, soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản QPPL

Văn bản quy phạm pháp luật phải giải quyết được các vấn đề bức xúc của xã hội và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân, thúc đẩy sự phát triển. Mọi hoạt động xây dựng pháp luật như: đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật đều cần thiết phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:

- Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

- Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

- Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

- Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

- Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

5. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng trong xây dựng thẩm định, ban hành văn bản QPPL

 - Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gắn với việc rà soát, đánh giá, xem xét, dự kiến bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm kịp thời loại bỏ những quy định lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo, không đúng thẩm quyền, không minh bạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động của chính sách, pháp luật: Đây là giải pháp căn bản để góp phần khắc phục những hạn chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo chất lượng các văn bản pháp luật. Mặc dù quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật là điều kiện quan trọng, song nếu chỉ dừng lại ở quy trình, thủ tục thì vẫn chưa có thể khắc phục hoàn toàn được những hạn chế trong đó có sự chồng chéo, xung đột giữa các văn bản pháp luật.

Hội nghị phổ biến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều và Phụ lục danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê.

- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quy định chế độ trách nhiệm, chế tài xử lý vi phạm đối với cá cá nhân, tổ chức trong xây dựng ban hành văn bản QPPL: Cần tăng cường công tác kiểm tra, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xử lý kịp thời các sai phạm theo hướng: Xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc tham mưu xây dựng, ban hành văn bản trái pháp luật; nâng cao trách nhiệm, chất lượng văn bản, phân công hợp lý hơn, phối hợp chặt chẽ hơn trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

- Thực hiện nghiêm túc, có chất lượng việc lấy ý kiến góp ý, tham vấn, phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật: Trong thực tiễn xây dựng pháp luật, còn nhiều hạn chế trong việc đánh giá tác động của các chính sách, pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Có nhiều dự thảo văn bản mới chỉ dừng lại ở việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan, hầu như chưa lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Do việc gửi dự thảo văn bản xin ý kiến thường là chậm nên không đảm bảo đủ thời gian cần thiết để cho các cá nhân, tổ chức liên quan nghiên cứu, đóng góp ý kiến, phản biện. Trên thực tế, ở nhiều nơi tuy có tổ chức lấy ý kiến góp ý, tham vấn song nội dung, chất lượng của các ý kiến góp ý còn sơ sài, nặng về câu chữ, kỹ thuật trình bày văn bản mà chưa tập trung nhiều vào các nội dung của dự thảo văn bản. 

Người dân tra cứu các thủ tục, văn bản QPPL tại Trung tâm hành chính công huyện.

Để bảo đảm chất lượng, hiệu lực pháp lý và hiệu quả xã hội của các chính sách, văn bản pháp luật cần làm nghiêm túc công đoạn tổ chức lấy ý kiến, sự tham vấn của các chuyên gia, các tổ chức pháp lý, xã hội, người dân và doanh nghiệp. Nhiệm vụ của các cơ quan chủ trì soạn thảo dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải chủ động lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động; rà soát, kịp thời phát hiện các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, bất hợp lý, không phù hợp với tình hình thực tiễn và đề xuất hướng giải quyết. 

Cần đổi mới cách tổ chức, xử lý, sử dụng thông tin của việc lấy ý kiến góp ý, phản biện chính sách và pháp luật đảm bảo khách quan, thực chất hơn. Để góp phần bảo đảm chất lượng của các văn bản pháp luật, cần thu hút sự tham gia ý kiến của các chuyên gia, doanh nghiệp và người dân ngay từ khâu xây dựng chính sách chứ không chỉ góp ý vào các dự án, dự thảo văn bản pháp luật. Các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác tham vấn ý kiến các đối tượng chịu sự tác động của văn bản.

Trung tâm hành chính công huyện Vũ Quang

- Tăng cường năng lực và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức tham gia xây dựng pháp luật, bảo đảm chất lượng của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật: Xây dựng chính sách, pháp luật là công việc rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi những người trực tiếp thực hiện phải có trình độ chuyên môn sâu, có năng lực phân tích chính sách và soạn thảo văn bản pháp luật, có ý thức trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật. Để bảo đảm tính chuyên nghiệp, cần xây dựng đội ngũ chuyên gia xây dựng chính sách, pháp luật được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về xây dựng chính sách và pháp luật. Đề xuất xây dựng pháp luật phải có đầy đủ căn cứ khoa học và thực tiễn; dự liệu được hết các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện.  

Một trong những hạn chế lớn trong xây dựng pháp luật là chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và thiếu tính ổn định của hệ thống pháp luật. Tần suất sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản pháp luật còn rất cao. Nhiều văn bản pháp luật tuổi thọ rất ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung. Pháp luật luôn phải thích ứng với sự thay đổi liên tục của thực tiễn cuộc sống. Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về nguyên tắc là điều cần thiết. Tuy nhiên, nếu pháp luật thường xuyên thay đổi sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực tới quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức. Pháp luật thường xuyên bị thay đổi, gây nên nhiều khó khăn trong thực hiện pháp luật, đồng thời cũng gây khó khăn cho chính hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước./.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
    CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH
    Bản đồ hành chính
     Liên kết website
    Thống kê: 1.772.453
    Trong năm: 547.580
    Trong tháng: 117.711
    Trong tuần: 28.515
    Trong ngày: 974
    Online: 31